NGƯỜI NƯỚC NGOÀI CÓ ĐƯỢC ỦY QUYỀN QUYẾT TOÁN THUẾ ?


Người lao động trong nước chủ yếu đến kỳ quyết toán thuế thu nhập cá nhân sẽ ủy quyền cho nơi trả thu nhập. Tuy nhiên, vẫn còn không ít người có thắc mắc là người nước ngoài có được ủy quyền quyết toán thuế hay không?

1. Khi nào người nước ngoài được ủy quyền quyết toán thuế?

Điểm d khoản 6 Điều 126/2020/NĐ-CP và Công văn 636/TCT-DNNCN ngày 12/3/2021 quy định người nước ngoài được ủy quyền quyết toán thuế thu nhập cá nhân nếu thuộc trường hợp sau:

(1) Cá nhân nước ngoài có thu nhập từ tiền lương, tiền công mà ký hợp đồng lao động từ 03 tháng trở lên tại 01 nơi và thực tế đang làm việc tại nơi đó vào thời điểm tổ chức, cá nhân trả thu nhập thực hiện quyết toán thuế thu nhập cá nhân, kể cả trường hợp không làm việc đủ 12 tháng trong năm.

(2) Cá nhân nước ngoài là người lao động được điều chuyển từ tổ chức cũ đến tổ chức mới do tổ chức cũ thực hiện việc hợp nhất, sáp nhập, chia, tách, chuyển đổi loại hình doanh nghiệp hoặc tổ chức cũ và tổ chức mới trong cùng một hệ thống thì cá nhân đó được ủy quyền quyết toán thuế cho tổ chức mới.

(3) Cá nhân có thu nhập từ tiền công, tiền lương ký hợp đồng lao động từ 03 tháng trở lên tại 01 nơi và thực tế đang làm việc tại nơi đó vào thời điểm tổ chức, cá nhân trả thu nhập quyết toán thuế thu nhập cá nhân (kể cả trường hợp không làm việc đủ 12 tháng trong năm); đồng thời có thu nhập vãng lai ở nơi khác mà bình quân tháng trong năm không quá 10 triệu đồng và đã được khấu trừ thuế thu nhập theo tỷ lệ 10% nếu không có yêu cầu quyết toán thuế đối với phần thu nhập này.

2. Khi nào phải trực tiếp khai quyết toán thuế?

Căn cứ điểm d khoản 6 Điều 126/2020/NĐ-CP, cá nhân cư trú có thu nhập từ tiền công, tiền lương trực tiếp khai quyết toán thuế với cơ quan thuế khi thuộc trường hợp dưới đây:

(1) Cá nhân cư trú có thu nhập từ tiền công, tiền lương có số thuế phải nộp thêm hoặc có số thuế nộp thừa đề nghị hoàn hoặc bù trừ vào kỳ khai thuế tiếp theo, trừ các trường hợp sau:

- Cá nhân có số thuế phải nộp thêm sau quyết toán thuế của từng năm từ 50.000 đồng trở xuống;

- Cá nhân có số thuế phải nộp nhỏ hơn số thuế đã tạm nộp thuế mà không có yêu cầu hoàn thuế hoặc bù trừ vào kỳ khai thuế tiếp theo;

(2) Cá nhân có mặt tại Việt Nam tính trong năm dương lịch đầu tiên < 183 ngày, nhưng tính trong 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên có mặt tại Việt Nam là từ 183 ngày trở lên.

(3) Cá nhân người nước ngoài kết thúc hợp đồng làm việc tại Việt Nam khai quyết toán thuế với cơ quan thuế trước khi xuất cảnh. Trường hợp cá nhân chưa làm thủ tục quyết toán với cơ quan thuế thì thực hiện ủy quyền cho tổ chức chi trả thu nhập hoặc tổ chức, cá nhân khác quyết toán thuế theo quy định về quyết toán thuế đối với cá nhân. Trường hợp tổ chức trả thu nhập hoặc tổ chức, cá nhân khác nhận ủy quyền quyết toán thuế thì phải chịu trách nhiệm về số thuế thu nhập cá nhân có nghĩa vụ phải nộp thêm hoặc được hoàn trả số thuế nộp thừa của cá nhân.

Lưu ý: Cá nhân sau khi đã ủy quyền quyết toán thuế, tổ chức trả thu nhập đã thực hiện quyết toán thuế thu nhập cá nhân thay cho cá nhân, nếu phát hiện cá nhân thuộc diện trực tiếp quyết toán thuế thuế thì tổ chức trả thu nhập không điều chỉnh lại quyết toán thuế của tổ chức trả thu nhập, chỉ cấp chứng từ khấu trừ thuế cho cá nhân theo số quyết toán và ghi vào góc dưới bên trái của chứng từ khấu trừ thuế nội dung: 

“Công ty...đã quyết toán thuế TNCN thay cho Ông/Bà....(theo ủy quyền) tại dòng (số thứ tự)...của Phụ lục Bảng kê 05-1/BK-TNCN” để cá nhân trực tiếp quyết toán thuế với cơ quan thuế.

3. Người nước ngoài là cá nhân cư trú hay cá nhân không cư trú?

Về cơ bản khi áp dụng pháp luật thuế thu nhập cá nhân thì không áp dụng quy định riêng để tính thuế đối với người nước ngoài, thay vào đó sẽ xác định xem có ký hợp đồng lao động hay không, thời gian ký hợp đồng là bao nhiêu để xác định người nước ngoài là cá nhân cư trú hay cá nhân không cư trú.

3.1. Cách xác định người nước ngoài là cá nhân cư trú

Khoản 1 Điều 1 Thông tư 111/2013/TT-BTC quy định cá nhân cư trú là người đáp ứng một trong các điều kiện sau:

Điều kiện 1: Có mặt tại Việt Nam từ 183 ngày trở lên tính trong một năm dương lịch hoặc trong 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên có mặt tại Việt Nam, ngày đến và ngày đi được tính là 01 ngày.

Điều kiện 2: Có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam thuộc một trong hai trường hợp sau:

Trường hợp 1: Có nơi ở thường xuyên theo quy định pháp luật về cư trú (nơi ở thường trú ghi hoặc nơi ở tạm trú theo Thẻ thường trú, thẻ tạm trú do cơ quan có thẩm quyền thuộc Bộ Công an cấ).

Trường hợp 2: Có nhà thuê để ở tại Việt Nam theo quy định pháp luật về nhà ở, thời hạn các hợp đồng thuê từ 183 ngày trở lên trong năm tính thuế.

3.1. Cách xác định người nước ngoài là cá nhân không cư trú

Người nước ngoài là cá nhân không cư trú nếu không đáp ứng được điều kiện của cá nhân cư trú.