NGƯỜI MANG 02 QUỐC TỊCH CÓ THỂ LÀM CÔNG CHỨC, VIÊN CHỨC


Quy định mới của Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2025 đã mở ra cơ chế linh hoạt hơn khi cho phép người mang hai quốc tịch trong những điều kiện nhất định có thể được tuyển dụng làm công chức, viên chức, nhằm thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao và phục vụ lợi ích quốc gia.

Trường hợp nào được phép có 2 quốc tịch tại Việt Nam

Theo khoản 5 và 6 Luật Quốc tịch 2008 (được sửa đổi, bổ sung bởi khoản 1 Điều 1 Luật Quốc tịch Việt Nam sửa đổi năm 2025) bổ sung các quy định về quốc tịch của công chức, viên chức và người giữ chức vụ trong Đảng.

Cụ thể, những người ứng cử, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm, chỉ định giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức chính trị-xã hội ở trung ương, địa phương; người làm việc trong tổ chức cơ yếu; người tham gia lực lượng vũ trang... phải là người chỉ có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam và phải thường trú tại Việt Nam.

Đối với các công chức, viên chức không thuộc trường hợp nêu trên phải là người chỉ có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam, trừ trường hợp có lợi cho Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, không làm phương hại đến lợi ích quốc gia của Việt Nam và phải thường trú tại Việt Nam.

Như vậy, quy định mới đã mở ra cơ chế linh hoạt, cho phép cá nhân mang hai quốc tịch (Việt Nam và nước ngoài) thường trú tại Việt Nam có thể được tham gia vào đội ngũ công chức, viên chức, nếu có lợi cho Nhà nước và không làm phương hại đến lợi ích quốc gia.

Nội dung nêu trên được hướng dẫn cụ thể bởi khoản 2 và khoản 3 Điều 12 Nghị định số 191/2025/NĐ-CP (có hiệu lực từ ngày 01/07/2025). Theo đó, cơ quan có thẩm quyền quản lý, tuyển dụng, sử dụng công chức, viên chức sẽ quyết định việc tuyển dụng, sử dụng công chức, viên chức là công dân Việt Nam đồng thời có quốc tịch nước ngoài, trên cơ sở xác định “có lợi cho Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” theo quy định pháp luật.

Khoản 2 Điều 12 của Nghị định này quy định về các trường hợp được xem là “có lợi cho Nhà nước”, bao gồm:

(i)            Người có tài năng vượt trội trong lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, kinh tế, pháp luật, văn hóa, xã hội, nghệ thuật, thể thao, y tế, giáo dục hoặc các lĩnh vực khác đã được cơ quan quản lý nhà nước cấp bộ xác nhận về tài năng hoặc được giải thưởng quốc tế, huân chương, huy chương và có cơ sở cho thấy người đó sẽ đóng góp tích cực, lâu dài cho sự phát triển lĩnh vực nói trên của Việt Nam;

(ii)          Doanh nhân, nhà đầu tư là cá nhân có hoạt động kinh doanh, đầu tư tại Việt Nam đã được cơ quan quản lý nhà nước cấp bộ xác nhận về việc người đó sẽ đóng góp tích cực, lâu dài cho sự phát triển của Việt Nam.

Từ những quy định trên có thể thấy, pháp luật đã có sự điều chỉnh theo hướng linh hoạt hơn trong việc sử dụng nguồn nhân lực mang hai quốc tịch. Tuy nhiên, sự linh hoạt này vẫn được kiểm soát chặt chẽ thông qua điều kiện “có lợi cho Nhà nước” và không làm phương hại đến lợi ích quốc gia. Qua đó, vừa tạo cơ hội thu hút nhân tài, vừa bảo đảm yêu cầu về an ninh, chủ quyền và hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước.