THỰC TRẠNG THỰC PHẨM NHẬP KHẨU BỊ ÁCH TẮC TẠI CỦA KHẨU DO QUY ĐỊNH MỚI VÀ VIỆC ÁP DỤNG ĐIỀU KHOẢN CHUYỂN TIẾP CỦA NGHỊ QUYẾT 66.13/2026/NQ-CP

I.
Thực trạng doanh nghiệp phản ảnh
Hiện nay, nhiều doanh nghiệp phản
ánh tình trạng hồ sơ nhập khẩu bị ách tắc tại cửa khẩu, không được cơ quan Hải
quan cho thông quan với lý do hồ sơ không đáp ứng các điều kiện theo Nghị
quyết số 66.13/2026/NQ-CP mới ban hành và có hiệu lực thi hành kể từ ngày
ký ban hành (ngày 27/01/2026). Hệ quả là hàng hóa bị lưu kho, lưu bãi kéo dài,
phát sinh chi phí lớn và ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động sản xuất – kinh
doanh của nhiều doanh nghiệp.

II.
Nội dung Điều 15 – Điều khoản chuyển tiếp
và ý nghĩa pháp lý
Điều 15. Điều khoản chuyển tiếp
của Nghị quyết số 66.13/2026/NQ-CP quy định rõ cơ chế xử lý đối với các hồ sơ,
sản phẩm và giấy tờ pháp lý đã tồn tại trước thời điểm Nghị quyết có hiệu lực,
cụ thể:
1.
Đối với hồ sơ đăng ký bản công bố sản phẩm đã nộp
trước thời điểm Nghị quyết có hiệu lực thi hành hoặc sản phẩm thực phẩm đã được
cấp Giấy tiếp nhận đăng ký bản công bố sản phẩm hoặc thực phẩm bổ sung chuyển từ
tự công bố sang đăng ký bản công bố sản phẩm:
·
Doanh nghiệp được tiếp tục sử dụng hồ sơ, giấy tờ
đã nộp;
·
Có trách nhiệm hoàn thiện hồ sơ theo quy định mới
trong thời hạn 24 tháng kể từ ngày Nghị quyết có hiệu lực;
·
Cơ quan tiếp nhận hồ sơ có trách nhiệm thẩm định
theo quy định của Nghị quyết.
2.
Đối với sản phẩm đã tự công bố trước thời điểm
Nghị quyết có hiệu lực:
·
Doanh nghiệp được tiếp tục lưu hành sản phẩm;
·
Có trách nhiệm hoàn thành việc công bố tiêu chuẩn
áp dụng theo quy định mới trong thời hạn 12 tháng kể từ ngày Nghị quyết có hiệu
lực.
3.
Hết thời hạn chuyển tiếp nêu trên, các hồ sơ, giấy
tờ cũ mới không còn giá trị để sản xuất hoặc nhập khẩu. Tuy nhiên, đối với:
·
Sản phẩm đã được sản xuất trong vòng 24 tháng;
·
Sản phẩm đã tự công bố, sản xuất trong vòng 12
tháng;
tính từ thời
điểm Nghị quyết có hiệu lực, thì được tiếp tục lưu thông đến hết hạn sử dụng của
sản phẩm, và chủ sở hữu sản phẩm chịu trách nhiệm về chất lượng, an toàn của sản
phẩm đó.
Có thể thấy, quy định này thể hiện
rõ tinh thần chuyển tiếp có thời hạn, cho phép các doanh nghiệp tiếp tục sử dụng
hồ sơ, giấy phép cũ trong một khoảng thời gian nhất định, thay vì phải đáp ứng
ngay lập tức các điều kiện mới.
Từ quy định cụ thể tại Điều 15
nêu trên có thể thấy, Nghị quyết đã dự liệu rõ giai đoạn chuyển tiếp để doanh
nghiệp có thời gian thích nghi và hoàn thiện hồ sơ theo yêu cầu mới. Tuy nhiên,
trên thực tế hiện nay, nhiều doanh nghiệp đang phản ánh tình trạng hàng hóa nhập
khẩu bị ách tắc tại cửa khẩu, không được cơ quan Hải quan cho thông quan với lý
do hồ sơ, sản phẩm chưa đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo Nghị quyết mới ban
hành.
Cách áp dụng này cần được xem xét
lại về mặt pháp lý.
Trước hết, đối với các hồ sơ đăng
ký bản công bố sản phẩm đã nộp trước thời điểm Nghị quyết có hiệu lực, hoặc các
sản phẩm đã được cấp Giấy tiếp nhận đăng ký bản công bố, Điều 15 cho phép doanh
nghiệp tiếp tục sử dụng các hồ sơ, giấy tờ này trong thời hạn chuyển tiếp lên đến
24 tháng. Trong khoảng thời gian đó, nghĩa vụ của doanh nghiệp là hoàn thiện hồ
sơ theo quy định mới, chứ không phải điều kiện bắt buộc ngay lập tức để được nhập
khẩu hay thông quan hàng hóa.
Do đó, việc cơ quan Hải quan lấy
lý do “hồ sơ chưa đáp ứng quy định mới” để từ chối thông quan ngay trong thời
gian chuyển tiếp là chưa phù hợp với tinh thần và nội dung của Điều 15. Cách hiểu
này vô hình trung đã tước bỏ giá trị pháp lý tạm thời của hồ sơ, giấy phép cũ,
trong khi Nghị quyết vẫn thừa nhận hiệu lực của các hồ sơ đó trong một khoảng
thời gian nhất định.
Tương tự, đối với sản phẩm đã được
tự công bố trước thời điểm Nghị quyết có hiệu lực, pháp luật cho phép doanh
nghiệp tiếp tục lưu hành và hoàn thiện việc công bố tiêu chuẩn áp dụng trong thời
hạn 12 tháng. Quy định này khẳng định rõ rằng pháp luật không đặt ra yêu cầu ngừng
ngay việc nhập khẩu hoặc lưu thông sản phẩm chỉ vì chưa kịp đáp ứng các điều kiện
mới.
III.
Hệ quả pháp lý của việc áp dụng không
đúng Điều khoản chuyển tiếp
Việc áp dụng Điều 15 không đúng
hoặc không thống nhất trong hoạt động thông quan có thể dẫn đến nhiều hệ quả
pháp lý đáng lưu ý.
Thứ nhất, hành vi từ chối thông
quan trong khi doanh nghiệp vẫn đang sử dụng hồ sơ hợp pháp trong thời hạn chuyển
tiếp có nguy cơ bị xem là hành vi hành chính trái quy định, xâm phạm quyền và lợi
ích hợp pháp của doanh nghiệp. Doanh nghiệp hoàn toàn có cơ sở để thực hiện khiếu
nại, kiến nghị hoặc khởi kiện hành chính theo quy định của pháp luật.
Thứ hai, việc hàng hóa bị ách tắc
kéo dài tại cửa khẩu gây thiệt hại trực tiếp cho doanh nghiệp như chi phí lưu
kho, lưu bãi, chậm tiến độ giao hàng, ảnh hưởng đến hợp đồng thương mại. Trong
một số trường hợp, điều này còn có thể làm phát sinh yêu cầu bồi thường thiệt hại
nếu chứng minh được lỗi trong việc áp dụng pháp luật của cơ quan có thẩm quyền.
Thứ ba, về mặt chính sách, cách
áp dụng cứng nhắc quy định mới ngay lập tức, bỏ qua điều khoản chuyển tiếp, sẽ
làm suy giảm niềm tin của cộng đồng doanh nghiệp vào tính ổn định và dự đoán được
của hệ thống pháp luật, đi ngược lại mục tiêu cải thiện môi trường đầu tư, kinh
doanh mà Chính phủ đang hướng tới.

IV.
Kết luận và kiến nghị
Từ các phân tích trên có thể khẳng
định rằng, Điều 15 – Điều khoản chuyển tiếp của Nghị quyết đã cho phép doanh
nghiệp tiếp tục sử dụng hồ sơ, giấy tờ và kết quả công bố cũ trong thời hạn nhất
định. Trong khoảng thời gian này, cơ quan quản lý nhà nước, bao gồm cả cơ quan Hải
quan, không có cơ sở pháp lý để từ chối thông quan hàng hóa chỉ vì doanh nghiệp
chưa đáp ứng đầy đủ các điều kiện mới.
Do đó, để bảo đảm việc thực thi
pháp luật đúng quy định và thống nhất, cần:
- Cơ quan Hải quan rà soát lại cách hiểu và áp dụng
Điều 15 trong hoạt động thông quan;
- Thống nhất quan điểm rằng thời hạn 12 tháng, 24
tháng là thời gian chuyển tiếp hợp pháp, không phải là rào cản ngay lập tức
đối với hoạt động nhập khẩu;
- Doanh nghiệp chủ động căn cứ Điều 15 để bảo vệ quyền
lợi hợp pháp của mình, đồng thời xây dựng lộ trình hoàn thiện hồ sơ theo
quy định mới.
Việc áp dụng đúng Điều khoản chuyển
tiếp không chỉ bảo vệ quyền lợi chính đáng của doanh nghiệp mà còn bảo đảm tính
nghiêm minh, nhất quán và hợp lý của hệ thống pháp luật.
Trong trường hợp Quý doanh nghiệp
có nhu cầu được các luật sư hỗ trợ khiếu nại, giải trình hoặc bảo vệ quyền, lợi
ích hợp pháp liên quan đến việc áp dụng Quy định tại Nghị quyết số
66.13/2026/NQ-CP, có thể liên hệ Celigal để được tư vấn và hỗ trợ pháp
lý phù hợp.
Tác giả
Tin nổi bật
- » CỔ ĐÔNG SỞ HỮU BAO NHIÊU CỔ PHẦN THÌ ĐƯỢC QUYỀN KIỂM SOÁT CÔNG TY
- » RỦI RO PHÁP LÝ KHI ĐẤT CÓ SỔ NHƯNG NHÀ CHƯA ĐƯỢC CẤP SỔ
- » LỪA ĐẢO BAO NHIÊU TIỀN THÌ BỊ ĐI TÙ ?
- » HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH VỀ LOGISTICS ĐỂ BẮT KỊP SỰ BÙNG NỔ CỦA THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
- » Ngân hàng nhà nước ban hành Thông tư 12/2022/TT-NHNN với các quy định hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp
- » LOGISTICS TRONG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ VÀ NHỮNG BẤT CẬP VỀ PHÁP LUẬT
- » CÔNG TY FINTECH VÀ HÀNH LANG PHÁP LÝ
- » ONEX LOGISTICS VÀ CELIGAL KÝ KẾT HỢP TÁC
- » Một Số Điểm Đáng Chú Ý Của Nghị Định 112/2021/NĐ-CP Quy Định Chi Tiết Một Số Điều Và Biện Pháp Thi Hành Luật Người Lao Động Việt Nam Đi Làm Việc Ở Nước Ngoài Theo Hợp Đồng
- » GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI

