KHÔNG CHẤP HÀNH NỘP PHẠT VI PHẠM GIAO THÔNG CÓ THỂ BỊ KHẤU TRỪ LƯƠNG, THU NHẬP TỪ NGÀY 01/01/2026


Trong thời gian qua, tình trạng cá nhân vi phạm giao thông nhưng chậm trễ hoặc cố tình không nộp phạt vẫn diễn ra khá phổ biến, gây khó khăn cho công tác thi hành pháp luật và làm giảm hiệu lực của các quyết định xử phạt vi phạm hành chính. Nhằm khắc phục thực trạng này, pháp luật đã bổ sung và hoàn thiện các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt, trong đó có biện pháp khấu trừ một phần lương hoặc một phần thu nhập của người vi phạm.

1.    Cơ sở pháp lý của biện pháp cưỡng chế

Theo Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012 (được sửa đổi, bổ sung năm 2020), cá nhân bị xử phạt vi phạm hành chính có nghĩa vụ chấp hành quyết định xử phạt trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định (trừ trường hợp trong quyết định có ghi thời hạn dài hơn). Ngay cả khi cá nhân đang thực hiện quyền khiếu nại hoặc khởi kiện đối với quyết định xử phạt, họ vẫn phải chấp hành việc nộp phạt đúng hạn (trừ một số trường hợp đặc biệt theo quy định pháp luật). Hết thời hạn này mà cá nhân vi phạm không tự nguyện chấp hành thì cơ quan có thẩm quyền được áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt nhằm bảo đảm việc thi hành theo đúng quy định pháp luật.

Tuy nhiên, trên thực tế, tình trạng chây ì, trốn tránh hoặc chậm trễ trong việc thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính vẫn còn diễn ra rất phổ biến. Để khắc phục thực trạng này, Nghị định số 296/2025/NĐ-CP của Chính phủ (có hiệu lực từ ngày 01/01/2026) đã quy định cụ thể và chi tiết hơn về các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính, trong đó làm rõ biện pháp khấu trừ một phần lương hoặc một phần thu nhập của cá nhân vi phạm, bao gồm cả các trường hợp vi phạm giao thông.

2.    Khi nào sẽ bị khấu trừ?

Biện pháp khấu trừ một phần lương hoặc một phần thu nhập không áp dụng ngay lập tức, mà chỉ được thực hiện khi người vi phạm đã có quyết định xử phạt vi phạm hành chính nhưng không tự nguyện chấp hành quyết định xử phạt. Trong trường hợp này, cơ quan có thẩm quyền có thể ban hành quyết định cưỡng chế, làm căn cứ để thực hiện việc khấu trừ. Khấu trừ một phần lương hoặc thu nhập là biện pháp được áp dụng khi cá nhân  có nguồn thu nhập xác định.

3.    Đối tượng bị áp dụng biện pháp cưỡng chế khấu trừ

Trước đây, Nghị định số 166/2013/NĐ-CP quy định khấu trừ một phần lương hoặc một phần thu nhập được áp dụng với cán bộ, công chức hoặc cá nhân đang làm việc được hưởng tiền lương hoặc thu nhập tại một cơ quan, đơn vị, tổ chức; cá nhân bị cưỡng chế đang được hưởng bảo hiểm xã hội.

Từ 01/01/2026,  Nghị định số 296/2025/NĐ-CP mới đã mở rộng phạm vi đối tượng bị khấu trừ. Cá nhân bị áp dụng biện pháp cưỡng chế theo nghị định mới sẽ là cán bộ, công chức, viên chức, người thuộc lực lượng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân, người làm việc trong tổ chức Cơ yếu; cá nhân đang làm việc được hưởng tiền lương hoặc thu nhập tại một cơ quan, đơn vị, tổ chức hoặc có thu nhập theo mùa vụ ngắn hạn do hộ gia đình, hộ kinh doanh, người sử dụng lao động thuê; Cá nhân bị áp dụng biện pháp cưỡng chế đang được hưởng chế độ hưu trí theo quy định của pháp luật bảo hiểm xã hội.

Có thể thấy quy định trước đây chỉ tập trung vào các đối tượng có thu nhập ổn định, điều này có thể dẫn đến tình trạng một số người vi phạm cố tình làm việc thời vụ hoặc thay đổi công việc để né tránh nghĩa vụ chấp hành quyết định xử phạt. Việc mở rộng đối tượng theo Nghị định số 296/2025/NĐ-CP, bao gồm cả người có thu nhập theo mùa vụ ngắn hạn, đã khắc phục kẽ hở này, qua đó nâng cao hiệu quả thi hành các quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

4.    Tỷ lệ khấu trừ

Về tỷ lệ khấu trừ, Nghị định số 296/2025/NĐ-CP quy định việc khấu trừ lương hoặc thu nhập có thể được thực hiện nhiều lần nhưng phải bảo đảm điều kiện sinh hoạt tối thiểu của người bị cưỡng chế và người được họ nuôi dưỡng. Cụ thể, đối với tiền lương, lương hưu, mức khấu trừ không quá 30% số tiền thực nhận hằng tháng sau khi đã trích nộp các khoản bảo hiểm và thuế; đối với các khoản thu nhập khác, tỷ lệ khấu trừ không quá 50% tổng thu nhập hằng tháng.

5.    Trình tự, thủ tục khấu trừ lương, thu nhập

Theo Điều 11 và Điều 12 Nghị định số 296/2025/NĐ-CP, việc cưỡng chế khấu trừ một phần lương hoặc thu nhập đối với cá nhân sẽ được thực hiện theo trình tự, thủ tục cụ thể, chặt chẽ.

5.1  Trách nhiệm cung cấp thông tin về lương, thu nhập

Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản yêu cầu cung cấp thông tin và các tài liệu liên quan kèm theo (nếu có) của người có thẩm quyền ra quyết định cưỡng chế, cá nhân bị áp dụng biện pháp cưỡng chế phải có trách nhiệm cung cấp thông tin về tiền lương, thu nhập, mức lương hưu hằng tháng được hưởng của mình theo yêu cầu của người có thẩm quyền ra quyết định. Đối với cơ quan, tổ chức, người sử dụng lao động đang quản lý tiền lương hoặc thu nhập và các tổ chức, cá nhân liên quan (nếu có) phải cung cấp các thông tin tương tự như trên của cá nhân bị áp dụng biện pháp cưỡng chế trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản yêu cầu, các tài liệu liên quan kèm theo (nếu có). Các chủ thể trên phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về thông tin đã cung cấp.

Người có thẩm quyền ra quyết định cưỡng chế có trách nhiệm tổ chức xác minh thông tin về tiền lương, thu nhập, mức lương hưu của cá nhân bị áp dụng biện pháp cưỡng chế để làm căn cứ ra quyết định cưỡng chế. Việc xác minh thông tin phải được lập thành biên bản xác minh.

Trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày xác định được thông tin về tiền lương, thu nhập, mức lương hưu hằng tháng của cá nhân bị áp dụng biện pháp cưỡng chế, căn cứ vào điều kiện thi hành quyết định cưỡng chế, người có thẩm quyền ra quyết định cưỡng chế phải ra quyết định cưỡng chế khấu trừ một phần lương hoặc một phần thu nhập đối với cá nhân.

5.2  Nội dung bắt buộc của quyết định cưỡng chế khấu trừ

Quyết định cưỡng chế khấu trừ một phần lương hoặc thu nhập đối với cá nhân phải đảm bảo thể hiện đầy đủ những nội dung cơ bản sau:

(i)            Số quyết định; ngày, tháng, năm ra quyết định; căn cứ ra quyết định; họ tên, chức vụ, đơn vị công tác của người ra quyết định;

(ii)          Họ tên, số căn cước công dân/số căn cước, địa chỉ của cá nhân bị áp dụng biện pháp cưỡng chế khấu trừ một phần lương hoặc một phần thu nhập;

(iii)         Tên, địa chỉ cơ quan, tổ chức, người sử dụng lao động quản lý tiền lương hoặc thu nhập của cá nhân bị áp dụng biện pháp cưỡng chế;

(iv)         Số tiền bị khấu trừ; lý do khấu trừ;

(v)           Tên, số tài khoản của Kho bạc Nhà nước nhận tiền;

(vi)         Thời gian thực hiện;

(vii)       Chữ ký của người ra quyết định và đóng dấu của cơ quan ra quyết định.

6.    Trách nhiệm của đơn vị quản lý tiền lương, thu nhập

Cơ quan, đơn vị, tổ chức hoặc người sử dụng lao động đang quản lý tiền lương, lương hưu hoặc thu nhập của người bị cưỡng chế có trách nhiệm nghiêm chỉnh chấp hành quyết định cưỡng chế. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày đến kỳ lĩnh tiền lương hoặc thu nhập gần nhất, các đơn vị này phải thực hiện khấu trừ và chuyển số tiền đã khấu trừ vào tài khoản tại Kho bạc Nhà nước theo nội dung ghi trong quyết định cưỡng chế, đồng thời thông báo cho người bị cưỡng chế và người ra quyết định cưỡng chế. Trường hợp người bị cưỡng chế đã chấm dứt hợp đồng có hưởng lương hoặc thu nhập trước khi khấu trừ đủ số tiền theo quyết định, đơn vị quản lý tiền lương, thu nhập phải thông báo ngay cho người ra quyết định cưỡng chế; nếu cố tình không phối hợp cung cấp thông tin hoặc không thi hành quyết định cưỡng chế thì sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật.

Như vậy, kể từ ngày 01/01/2026, cá nhân vi phạm hành chính, trong đó có vi phạm giao thông đường bộ, nếu không tự nguyện chấp hành quyết định xử phạt đúng thời hạn, có thể bị khấu trừ lương hoặc thu nhập hằng tháng để cưỡng chế thi hành.